Công nghệ chế biến khoáng sản Fluorite: Sơ đồ tuyển khoáng hoàn chỉnh từ quặng nguyên khai đến tinh quặng hàm lượng cao
Công nghệ chế biến khoáng sản fluorit: Bảng quy trình hưởng lợi đầy đủ từ quặng khai thác đến quặng cô đặc cao cấp
Tóm tắt
Fluorite thô khai thác (ROM) thường có cấp độ CaF₂ vốn có thấp và phát triển xen kẽ với các khoáng chất gangue bao gồm thạch anh, canxit và barit. Nghiền và tuyển nổi đóng vai trò là công nghệ làm giàu cốt lõi để sản xuất tinh quặng fluorit cấp axit, cấp gốm và cấp luyện kim. Chất ức chế tổng hợp tiên tiến giải quyết hiệu quả nút thắt kỹ thuật toàn cầu trong việc tách fluorit-canxi, hỗ trợ nhu cầu đang bùng nổ từ các ngành công nghiệp năng lượng và bán dẫn mới về nguyên liệu fluorochemical có độ tinh khiết cao. Bài viết này xây dựng một cách có hệ thống toàn bộ mạch chế biến fluorit, mô tả chi tiết quá trình chuyển đổi kỹ thuật từ quặng ROM thô sang các sản phẩm fluorit có giá trị cao.
1 Tổng quan & Nguyên tắc cốt lõi của việc làm giàu Fluorite
1.1 Mục tiêu cốt lõi
Mục tiêu làm giàu fluorit là tinh chế và phân loại cấp độ: các phương pháp tách vật lý và hóa học được triển khai để loại bỏ gangue, làm giàu CaF₂ và sản xuất tinh quặng fluorit tiêu chuẩn được phân loại theo độ tinh khiết CaF₂ và ngưỡng tạp chất nghiêm ngặt. Tinh quặng fluorit công nghiệp được chia thành ba loại thương mại chính:
- Tinh bột Fluorite cấp axit (cấp hóa học)
CaF₂ ≥ 97%, SiO₂ ≤ 1,0%. Nguyên liệu thô chính cho axit hydrofluoric (HF) và sản xuất hóa chất fluoro.
- Chất cô đặc Fluorite cấp gốm
CaF₂ dao động từ 85%–96%, được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất men gốm, nấu chảy thủy tinh và sản xuất clanhke xi măng.
- Fluorite cấp luyện kim (cấp thông lượng)
CaF₂ nằm trong khoảng 70%–85%, được sử dụng làm chất hóa lỏng xỉ trong luyện gang và luyện thép để cải thiện độ linh động của xỉ và tăng hiệu quả khử lưu huỳnh/khử phospho.
1.2 Quy tắc thiết kế cơ bản
Bố cục sơ đồ quá trình hưởng lợi được tùy chỉnh hoàn toàn dựa trên các đặc điểm khoáng vật quặng, đặc biệt là độ mịn phổ biến khoáng sản và mối liên hệ di truyền giữa fluorit và gangue.Thử nghiệm khoáng vật tiền chế biến quặng + thiết kế quy trình cá nhân hóalà nguyên tắc vàng cho hiệu suất tách fluorit ổn định.
2 Bảng phân tích quy trình làm giàu fluorit hoàn chỉnh
Một máy cô đặc fluorit toàn quy trình tiêu chuẩn bao gồm bốn phần lõi tuần tự: Nghiền & Sàng lọc → Nghiền & Phân loại → Tách tuyển nổi → Làm đặc, khử nước & sấy khô. Trong số đó, tuyển nổi là công nghệ cốt lõi chủ đạo để sản xuất tinh quặng fluorit cấp gốm và axit có độ tinh khiết cao.
2.1 Phần chuẩn bị: Nghiền & sàng lọc
Quặng fluorit ROM xuất hiện ở dạng cục lớn và yêu cầu giảm kích thước theo giai đoạn để tạo ra nguyên liệu đủ tiêu chuẩn để nghiền. Cấu hình công nghiệp trưởng thành áp dụng mộtnghiền hai giai đoạn + sàng lọc mạch kínmạch:
- Nghiền sơ cấp (Máy nghiền hàm)
Giảm quặng ROM số lượng lớn xuống kích thước hạt dưới 200–300 mm.
- Nghiền thứ cấp (Máy nghiền hình nón / tác động)
Nghiền thêm các mảnh thô đến 50–70 mm.
- Sàng lọc mạch kín rung
Máy sàng rung phân loại vật liệu nghiền: các phần mịn đủ tiêu chuẩn tiến hành nghiền; các hạt thô quá khổ quay trở lại máy nghiền thứ cấp để nghiền lại.Phần này cung cấp cấp liệu có kích thước hạt đồng đều để ổn định hiệu quả nghiền tiếp theo và tránh tạo ra chất nhờn khi nghiền quá mức.
2.2 Phần tách lõi: Nghiền, phân loại & tuyển nổi
2.2.1 Nghiền & Phân loại mạch kín
Thức ăn nghiền được nghiền đến độ mịn giải phóng hoàn toàn khoáng chất (thường là -0,074 mm / -200 lưới) để có thể tách tuyển nổi hiệu quả:
- Bộ phận mài: Máy nghiền bi hoặc máy nghiền que tác dụng lực va đập và lực mài mòn lên các hạt quặng được nghiền mịn.
- Đơn vị phân loại: Máy phân loại xoắn ốc hoặc hydrocyclones tách nước thải của nhà máy thành hai dòng: bột giấy mịn được giải phóng tràn để tuyển nổi, cát thô chưa được giải phóng chảy dưới sẽ quay trở lại máy nghiền để nghiền lại.Phân loại theo chu trình kín cân bằng mức độ giải phóng và tránh sự hình thành chất nhờn quá mức làm suy giảm khả năng chọn lọc và phục hồi tuyển nổi.
2.2.2 Tách tuyển nổi (Vận hành đơn vị làm giàu lõi)
Tuyển nổi khai thác sự khác biệt về tính chất hóa lý bề mặt khoáng sản. Các hạt fluorit mục tiêu được kỵ nước có chọn lọc bằng thuốc thử tuyển nổi, gắn vào bọt khí và nổi lên các lớp bọt để tách. Kiểm soát bột giấy và thuốc thử chính xác xác định cấp độ cô đặc và độ thu hồi.
Bước 1 Điều hòa bột giấy và bổ sung thuốc thử
Bột nghiền được chuyển sang bể điều hòa để điều chỉnh mật độ bột và bổ sung thuốc thử tuyển nổi theo trình tự cố định:
- Thuốc ức chế (Tác nhân kỹ thuật cốt lõi)
- Natri silicat (thủy tinh nước): Chất ức chế tiêu chuẩn cho gangue silicat (thạch anh); tạo thành màng ưa nước trên bề mặt thạch anh để ngăn chặn sự tuyển nổi.
- Chất ức chế hữu cơ tổng hợp (chiết xuất quebracho, axit tannic, lignosulfonate): Bắt buộc đối với quặng chứa canxit/dolomite. Các chất này hấp phụ có chọn lọc lên bề mặt canxi cacbonat để ngăn chặn sự tuyển nổi canxit trong khi vẫn giữ được tính kỵ nước của fluorit. Việc tách fluorit-canxi vẫn là một thách thức xử lý khoáng sản kinh điển trên toàn thế giới do các vị trí hoạt động bề mặt Ca2⁺ giống hệt nhau.
- Người sưu tầm
Làm cho bề mặt hạt fluorit kỵ nước để gắn bong bóng.
- Các tác nhân truyền thống: Axit oleic, xà phòng parafin oxy hóa, giá thành thấp nhưng độ hòa tan kém trong điều kiện bột giấy ở nhiệt độ thấp với độ chọn lọc vừa phải.
- Các giải pháp thay thế công nghiệp hiện đại: Bộ thu gom axit béo tổng hợp hiệu suất cao với khả năng thích ứng với nước lạnh và độ chính xác tách vượt trội, được áp dụng rộng rãi trong các máy cô đặc mới.
- chất điều chỉnh pH
Tro soda (natri cacbonat) là chất điều chỉnh phổ biến để duy trì bột giấy có tính kiềm yếu (pH 8–10), cửa sổ tối ưu để tối đa hóa hiệu suất ức chế và thu gom.
Bước 2 Vận hành mạch tuyển nổi nhiều giai đoạn
Bột giấy đã được điều hòa đi vào một chu trình tuyển nổi theo từng cấp bao gồm các tế bào thô hơn, sạch hơn và tế bào nhặt rác:
- Tuyển nổi thô hơn
Liều lượng thu gom cao và bổ sung chất ức chế vừa phải làm nổi khối fluorit cùng với gangue dễ nổi để tạo ra chất cô đặc thô. Mục tiêu chính là tối đa hóa khả năng thu hồi fluorite tổng thể.
- Tuyển nổi làm sạch nhiều giai đoạn (tiêu chuẩn 3–7 giai đoạn)
Chất cô đặc thô trải qua quá trình tuyển nổi lại lặp đi lặp lại với các chất ức chế liều thấp tăng dần để loại bỏ các tạp chất gangue bị cuốn theo. Nhiều giai đoạn làm sạch hơn sẽ mang lại cấp độ cô đặc CaF₂ cao hơn nhưng phải trả giá bằng việc mất đi một chút khả năng thu hồi trong một giai đoạn.
- Tuyển nổi (giai đoạn 1–2)
Các chất thải thô hơn đi vào các tế bào nhặt rác để thu hồi fluorit không được giải phóng còn sót lại, giảm tổn thất CaF₂ của chất thải cuối cùng và tăng cường khả năng phục hồi toàn mạch.
2.3 Phần chế biến sản phẩm cuối cùng: Làm đặc, lọc và sấy khô
Chất cô đặc tuyển nổi được thải ra dưới dạng bùn có độ ẩm cao và yêu cầu khử nước theo giai đoạn để lưu trữ và vận chuyển:
Kế tiếp